
Mới đây một người bạn ở bên Mỹ gởi cho tôi tờ báo KBC đọc chơi, báo hình như từ tháng nào, không phải báo mới đây, nhưng không sao đọc được tờ báo lính là thích rồi. Tôi có tật, đọc sách mà có hình là tôi coi hình trước để mong nhận diện người quen , lần nầy thì tôi nhìn được người quen thiệt. Lật vài ba trang đầu, tôi thích thú nheo mắt dừng lại ở một tấm hình. Tôi không đọc vội hàng chú thích bên dưới, tôi muốn chứng tỏ tôi nhớ đúng ông Thiếu úy Thất đây mà, tôi la to lên “ông Thiếu úy Thất, Tiểu đoàn 38 Biệt Động Quân nè, ổng mới qua Mỹ chắc! Dữ chưa, mấy chục năm rồi”. Tôi vừa cầm tờ báo, vừa chạy lên lầu chỉ cho nhà tôi xem. Lúc đó tôi mới có thì giờ đọc hàng chú thích bên dưới,”....Thiếu úy Thất, Tiểu đoàn 38 Biệt Động Quân, hy sinh tạị... năm...... “ Tôi sững sờ, nín bặt, không tin mắt mình, tôi hỏi nhà tôi cho chắc “âcái gì, ổng chết rồi hả “, tôi kêu nhỏ trong đầu “âỒ, no“. Tôi nhìn kỹ lại tấm hình, hình ảnh đó, dáng dấp đó, nét mặt đó những năm 1968 tiểu đoàn anh đóng quân ở nhà tôi.
Hai
mươi tám năm qua rồi, từ hồi Tết Mậu Thân, năm 1968 đến
giờ. Ngày đó tôi còn nhỏ lắm mới 10 tuổi thôi, mà tôi
còn nhớ như in, như mới năm ngoái năm kia. Buổi tối hôm
đó, nhà chỉ còn lại có Má và 3 chị em tôi. Ba tôi phải vô
sở ngủ do tình hình an ninh không cho phép. Anh tôi thì Ba gởi
vào nội trú ở Lasan Mossard Thủ Đức và em trai tôi thì Ba để
ở dưới nhà nội vì nhà nội tôi ở sát bên bót Cảnh sát.
Thế
là nhà ban đêm chỉ toàn đàn bà con gái, ban ngày thì mới
có Ba và em về. Buổi tối, nghe tiếng gõ cửa, má tôi ra mở
, thấy một toán 5-6 anh lính, má mời vào, các anh ngỏ ý muốn
đóng quân trên lầu nhà tôi. Má tôi không chút e dè “âmời”
mấy anh ở liền, má nói ”có lin'h ở trong nhà mình, yên tâm
hơn“. Nhà tôi hai căn lầu cất dính liền nhau, một căn gia
đình đang ở, và một căn Ba má tôi vừa mới cất xong trước
Tết còn trống trơn chưa kịp chưng dọn gì cả, đó là lý do
tại sao mấy anh muốn mượn nhà tôi để đóng quân. Má tôi
đưa mấy anh đi lên lầu ngôi nhà mới, tôi cũng lót tót
chạy theo nghe chuyện. Tôi nhiều chuyện tới nỗi sau khi chỉ chỗ
ở cho mấy anh xong rồi má tôi trở về căn nhà
cũ tôi còn ở đó một mình để xem các anh ăn ở ra làm
sao. Lần đầu tiên tôi thấy lính và lần đầu tiên tôi nắm
được bàn tay người lính, tôi thích lắm, tôi hỏi một anh
“anh là lính gì vậy?” anh đáp “Biệt Động Quân cưng ơi”,
rồi tôi mon men theo đứng nhìn anh chia ca gác cho các anh khác.
Tôi chưa chịu về nhà, mà các anh cũng không ai đuổi tôi đi
còn nói chuyện, còn đùa giởn với tôi nữa là khác, cho
đến lúc má tôi gọi về ngủ .
Hồi
anh tôi chưa vô nội trú, tôi đeo theo anh và đám bạn trai của
anh tôi bị Ba má tôi la hoài “con gái gì mà cứ đeo theo chơi
với con trai không”, nhưng la là la cho có vậy thôi chứ Má
tôi cũng thừa hiểu ngoài anh tôi ra, tôi có ai để chơi
chung nữa đâu. Chị Hai tôi thì lớn quá đang ở tuổi có bồ,
em trai và em gái tôi thì còn quá nhỏ, chỉ có anh tôi là tuổi
trạc bằng tôi và chơi với anh và các bạn của anh thì tôi
được chìu chuộng và được lo lắng đủ mọi thứ. Bây giờ
anh tôi vô nội trú rồi, tôi ở nhà chơi cu ky có một mình,
gặp lúc mấy anh lính đến nhà đóng quân, tôi có cảm tưởng
như họ là anh tôi. Tôi biết tên hết từng anh, anh nào lạ
không biết tên là tôi hỏi liền. Các anh còn chỉ cho tôi biết
ai là “ông thầy” và ai là “ông táo”, mấy bông mai là
lớn nhứt, hết bông mai rồi tới cấp bậc gì.... từ đó tôi
rành hết cấp bậc trong quân
đội, chứ Ba tôi có kể gì cho tôi nghe đâu, mặc dù Ba tôi
cũng đã từng ở trong quân đội hồi còn trẻ . Từ đó nên
tôi biết trong các anh đóng quân ở nhà tôi, anh Thất là
thiếu úy, là “ông thầy” của mấy anh kia, mà qua lối nói
chuyện tôi thấy mấy anh kia cũng có vẻ nể anh Thất lắm. Hồi
mấy anh ở nhà tôi, Má tôi coi mấy anh như con cháu, có gì
ngon má tôi hay kêu tôi bưng lên cho mấy anh “ăn lấy thảo”.
Có
một anh tên là Kim, anh rất giống anh Tư của tôi từ gương mặt,
lối nói chuyện, anh Tư tôi rất ít nói và ăn nói cộc lốc,
anh Kim cũng thế, ít thấy anh giỡn với mấy anh khác, thì giờ
rảnh của anh nếu không ngủ thì anh o bế đôi giày trận và
cây súng M16 của anh. Những lúc đó tôi hay tò vè bên anh,
nghe anh kể chuyện gia đình anh. Còn hai đặc điểm khác mà anh
giống hệt anh Tư của tôi là anh cũng có cái răng khểnh, tôi
thích nhìn anh Tư tôi cười, coi đẹp làm sao, tôi hồi đó cũng
thích nhìn anh Kim cười, nhiều lúc ngồi nói chuyện lâu quá
không thấy anh cười tôi nắm tay anh lắc lắc “âanh Kim, cười
coi”, thế là anh nhe cái răng khểnh anh ra. Má tôi đặc biệt
thương anh Kim vì anh có mái tóc quăn y chang mái tóc quăn của
anh Tư tôi, ở nhà gọi anh Tư là “Quắn” vì thế. Các anh
và anh Kim ai cũng biết là Má tôi thương anh Kim như con ruột
qua hình ảnh của anh Tư tôi, nên anh Kim gọi má tôi là
Má, anh coi tôi như em gái. Thậm chí sau nầy khi đơn vị các anh
đã đổi đi xa, khi có phép anh về ghé thăm ba má
tôi. Có một lần, buổi trưa, lúc đó anh đang đóng quân ở miền nào
xa lắm tôi không nhớ rõ, tôi đang ngồi chơi bán đồ chơi
một mình trước cửa nhà, một chiếc áo lính hiện ra trước
mắt tôi, ngước lên, tôi la ”A, anh Kim, anh Kim”, rồi tôi
phóng lên ôm anh. Sau lần đó, không thấy anh trở lại nữa.
Má tôi hỏi dò nghe nói là tiểu đoàn anh đã đổi ra Trung.
Tôi
nhớ hồi đó tôi thích nhìn anh Thất với cây “dùi cui” đeo
lủng lẳng bên hông, trong anh có vẻ ít nói, tưởng rằng khó
chịu, mặc dù đôi lúc tôi thấy anh cười nhưng nụ cười hình
như không thân thiện lắm. Lúc đầu tôi sợ , không dám đến
gần đấu láo với anh; nhưng có một hôm tôi thấy một anh lính
của anh Thất, tên là Hoàng anh là binh nhì thôi, mà hôm đó
lúc nhìn anh tiển cô bạn gái của anh từ trên lầu xuống,
anh lại mặc áo có hai bông mai. Tôi nhìn lên, tên “Thất”,
tôi chưa đủ khôn để hiểu rằng anh mặc áo của ông Thiếu
úy để lấy le với cô bạn gái. Tôi chạy lại níu anh “âanh
Hoàng ơi, anh mặc lộn áo rồi, áo của anh Thất mà”, anh còn
giả bộ nhìn cái áo “ủa vậy hả, vậy mà anh không biết”.
Lúc đó anh Thất vừa từ trên lầu bước xuống và anh mặc
chiếc áo đề tên anh Hoàng, tôi ngơ ngác “ sao mấy ông nầy
mặc tùm lum hết “, ai biết đường đâu mà gọi. Anh Thất
ngồi xuống bên tôi:
-
Đó là ông Thất, còn anh là Hoàng. rồi anh cười khó
hiểu. Tôi chưa hết thắc mắc:
-Sao
từ nào giờ em thấy ai cũng gọi anh là thiếu úỵ
Anh
đứng dậy vuốt đầu tôi:
-Anh
giống thiếu úy hở ?
Rồi
nói với anh Hoàng:
-
Có cô em gái nhỏ xíu vậy mà còn qua mặt không được.
Anh
Hoàng nhéo mũi tôi:
-Con
nhỏ nầy, sao mà rình anh kỹ vậy, em gái? Tới lúc đó tôi mới
hiểu ra rằng anh Hoàng chỉ muốn lấy le với cô bạn gái. Sau
lần đó, tôi không còn có ý nghĩ là anh khó chịu nữa. Một
lần tôi hỏi anh:
-Bộ
trong nhà anh thứ 7 sao mà Mẹ anh đặt tên là Thất? (cũng câu
hỏi đó, về kể Má tôi nghe, Má mắng tôi “con gái nhiều
chuyện”) Anh cười:
-
Anh thứ 7 ha? Không phải đâu em gái (hồi xưa anh nào cũng hay
gọi tôi là em gái). Bên tiểu đội kia có ông thiếu úy tên
“Tình”, anh phải tên Thất” cho hợp với ổng. Em
Tôi
mê lính lắm từ hồi nhỏ đã bị má tôi la hoài ôcon gái gì
mà tối ngày cứ đeo theo mấy ông lính, kêu về nhà rồi là
một lát cũng chạy tót qua bển. Còn má tôi, má tôi tin tưởng
vào sự hiện diện của mấy anh lính lắm. Có một buổi chiều
đang ngồi ăn cơm trong nhà, anh Thất qua cho má tôi hay là “tụi
cháu rút đi bây giờ”, trên tay tôi đang cầm chén cơm, má
tôi lấy bỏ xuống bàn cái rụp rồi hối tôi “đi con, vô
thay đồ rồi mình cũng đi luôn”ï, tôi ngơ ngác “đi đâu?”,
má tôi nói “âmấy anh đi rồi, mình cũng đi, tối đâu dám
ngủ ở nhà. Ba đã dặn như vậy”. Rồi không đợi cho má
tôi dặn dò gì nhiều, tôi chạy theo mấy anh liền, lên lầu tôi
hỏi anh Kim “mấy anh đi hết hả ? Có trở về không?”, anh
Kim cười với tôi “không biết đâu em gái, em gái ở lại
mạnh giỏi nghe.”
Rồi
thì sau khi các anh đổi đi, có các anh lính khác đến đóng
quân nữa, má tôi mới dám dẫn tụi tôi trở về. Nhà tôi
suốt trận giặc tết Mậu Thân, lúc nào cũng có lính đóng,
mà lần nào các anh đến, hình như là má tôi hay dặn trước
chừng nào rút quân đi thì cho má tôi hay, nên cứ mỗi lần
sắp rút đi là tôi thấy có một anh chạy xuống nói lẹ một
câu rồi là trước sau gì má tôi cũng kéo tôi vô
“chuẩn bị đi nghe con”. Có một lần lúc tiểu đoàn 2
Trâu điên - Thủy quân lục chiến- đến đóng, tôi cũng đeo
theo mấy anh. Một buổi chiều đã 5, 6 giờ gì rồi, anh Út nói
với tôi “Bé về nói với má, tụi anh đi bây giờ, nhanh
lên”, rồi tôi phóng ngay về nhà lặp lại y chang lời anh nói,
xong tôi lại bay trở laị coi mấy anh chuẩn bị đi, lần nầy má
tôi giận quá đích thân bà lội qua triệu tôi về, phét cho
mấy roi để “nhớ đời”.
Chiến
tranh bắt đầu dữ dội, và tôi bắt đầu lớn để hiểu thêm
nhiều về chiến tranh từ những năm 72. Tôi để ý nhiều đến
cuộc chiến, tôi bắt đầu suy nghĩ về chiến tranh. Mỗi lần
nghe đánh đấm ở đâu là lòng tôi nghe âu lo, thấp thỏm.
Tôi nhớ lúc tôi xem đoạn
thời sự quay Cổ thành Quảng Trị đã lấy lại được, nhìn
lá cờ VNCH bay phất phới, và nhìn các anh lính vừa la vừa
cười dưới chân Cổ thành, tôi thấy có một anh trung úy còn
trẻ măng, tóc dài thoòng, đen thui thui, tôi nói với anh tôi
“anh Tư coi kìa, ông trung úy đó, còn trẻ ha, tóc dài thoòng,
coi hách chưa”, anh tôi nói “ông đó mới đúng là người
hùng, lính phải vậy “, anh em tôi nghe vui, làm như chính mình
cũng có dự phần trong đó, làm như chính gia đình tôi có người
thân trong đó. Từ cuộc chiến mùa hè 1972, tôi biết thêm
nhiều địa danh qua truyền hình, báo chí như Đại Lộ Kinh Hoàng,
Nhà Thờ La-Vang...Tôi đau xót từng ngày những ngày An Lộc
bị thất thủ, đếm từng ngày trông chờ cho An Lộc được
giải vây. Sau cuộc chiến An
Lộc, tôi xem trên TV và thuộc được hai câu thơ mà tôi rất
thích (nghe nói là của một cô giáo!!) :
Năm đó tôi đang học lớp đệ Tứ, thầy tôi cho bài luận văn “hãy bình luận câu nói của Tướng Lê văn Hưng : An Lộc thất thủ tôi sẽ tự sát “. Tôi phải thú thật rằng, từ nhỏ đến giờ đi học tôi rất sợ môn Luận văn, tả người, tả cảnh, tả tình...tôi dốt lắm. Tôi chưa bao giờ được điểm cao về Luận văn. Hồi đệ Thất, đệ Lục cô giáo cho đề tả con chó, con mèo,ta cành bông Huệ ... tôi ngồi cắn nát cây bút cả hai tiếng đồng hồ chưa viết ra được một hàng. Vậy mà hôm ông thầy cho đề bình luận về câu nói bất hủ của Tướng Lê văn Hưng tôi đã nói tràng giang đại hải, nói quá chừng chừng, mặc dù lúc mới đọc đề luận tôi rầu lắm, rên thầm trong bụng “cái ông, cho đề gì mà trên trời dưới đất, biết viết gì đây?”. Vậy mà không ngờ khi đặt bút xuống tôi viết một lèo đã tay luôn. Nộp bài luận rồi tôi còn sợ không biết mình viết có đúng đề không hay dám rồi đây ông thầy sẽ hoạch “lạc đề” to tổ bố trong bài. Tôi chưa bao giờ thấy mặt tướng Hưng, dù trên báo, trên truyền hình hay trong taì liệu , chỉ căn cứ vào những tin tức coi được trên TV, đọc được trong báo về trận chiến An Lộc, và ký giả báo chí nói về vị tướng trẻ tài ba, bất khuất. Bài luận đó tôi được hạng nhứt. Tôi ngỡ ngàng gần như nằm mơ khi nghe thầy kêu tên tôi và biểu đứng dậy...
Những người lính trận tôi gặp
lần đầu tiên trong đời, đã cho tôi thấy hình ảnh
oai hùng, hiên ngang về một người lính, một người chỉ
huy trong quân đội, đó là những anh lính tiểu đoàn 38 Biệt
Động, rồi sau đó các anh Thủy Quân Lục Chiến của Tiểu đoàn
2 Trâu Điên, các anh lính Biệt Khu Thủ Đô...những anh hùng
bằng xương, bằng thịt mà tôi thấy được, biết được. Tôi
biết khi các anh đã đánh là phải
thắng, đánh cho tới cùng, đánh cho tới Việt Cộng nghe tên
đã sợ...
Đến
trận chiến năm 1975 lúc đó tôi đã lớn hẳn để hiểu nhiều
hơn về chiến tranh và mất mát. Tôi theo dõi từng con số viện
trợ chiến tranh mà Quốc Hội Mỹ giành cho Việt nam. Tôi cũng
bàng-hoàng, hụt hẫng khi nghe tin Mỹ cắt phân nửa rồi sau hơn
phân nửa, và cuối cùng là chỉ còn một phần viện trợ nhân
đạo. Những buổi chiều ngồi với nhỏ Đều trên sân thượng
nhà tôi, nhìn thấy chiếc máy bay nào bị trúng hỏa tiển tầm
nhiệt của Việt cộng, rơi xuống, hai đứa tôi chết lặng trong
lòng. Tôi với nhỏ Đều ( là bạn học cùng lớp với tôi)
ngồi lâm râm cầu nguyện cho mấy anh được bình yên. Tôi với
Đều
hỏi qua hỏi lại “mầy có thấy cánh dù nào bung ra chưa?”.
Vì tôi nghe Ba tôi nói “bắn rớt máy bay không hề gì, anh
phi công còn sống mới là quan trọng”. Ngồi dán đôi mắt
lên trời mãi cho tới khi chắc chắn thấy một cái chấm gì
đen đen từ trong máy bay bung ra thì hai đứa mới an tâm. Còn
nếu không thấy một dấu hiệu nào, hai đứa bắt đầu boăn
khoăn lo sợ. Mỗi lần nghe
tiếng bom nổ ở miệt Tây Ninh, Trảng Bàng, Hậu Nghĩa là tôi
leo tuốt sân thượng ngồi nhìn, đếm từng chiếc máy bay, bao
nhiêu chiếc đến và bao nhiêu chiếc trở về. Tôi thương các
anh quá đổi là thương. Tôi và Đều hay nói với nhau “mình
ở đây giờ nầy, ngồi trong nhà yên ổn như thế nầy mà chính
mắt mình thấy lính mình rớt máy bay như vậy, trời ơi tao chịu
không thấu mầy ơi"
Ba
tôi vừa nói vừa chỉ những người đeo băng đỏ trên cánh
tay, ôm một đống cờ mặt trận, mặt mày hớn hở leo lên
xe jeep chạy loạn xà ngầu trong thành phố. Ba tôi nói “ngày
hôm nay không phải là ngày Giải phóng giải phiếc gì hết,
ngày hôm nay là ngày mất nước, nhớ không”. Đó là lần
đầu tiên trong đời cả nhà tôi chứng kiến Ba tôi khóc. Ba
tôi nước mắt ràn rụa, khóc tức tưởi, khóc như bị bức
tử. Và thật vậy, kể từ sau ngày 30 tháng tư, gia đình tôi
không một ai làm gì dính líu đến chính quyền cộng sản. Anh tôi
lúc đó đang ngồi năm thứ hai Đại học Sư Phạm, bị tống cổ
ra khỏi trường vì Ba tôi”nguỵ”. Tôi thi rớt
“Tú Tài Giải Phóng” vì gốc “nguỵ” ở nhà chơi luôn. Em út tôi hai đứa ráng đi cho
hết Trung học rồi cũng nằm nhà. Và cho đến bây giờ,
sau hơn hai mươi năm, ba tôi vẫn gọi sau ngày 30 tháng tư là
ngày mất nước, không bao giờ Ba tôi nói và ông rất không
bằng lòng ai nói “từ sau giải phóng”, Ba tôi nói “sau ngày
mất nước”, hoặc “sau ngày 30 tháng tư” nếu phải nói
chuyện với đám cán bộ, công an cộng sản....
Bởi
Ba tôi dạy thế nên anh em chúng tôi không bao giờ quên mình
là gì, ở đâu, bởi dù gì thì chính Ba tôi đã là “nguỵ”.
Ba tôi đã nuôi dưỡng chúng tôi không chỉ bằng mồ hôi nước
mắt, mà còn bằng máu của ông nữa. Cho nên tình cờ mà nhìn
lại được hình ảnh anh trên tờ KBC để rồi biết anh đã hy
sinh, tôi tưởng chừng như mới hôm nào thôi, không khỏi bàng
hoàng và thương nhớ như mình vưà nhận được hung tin mất
đi một người anh từ chiến trận, anh Thất ơi. Viết những dòng
nầy cho anh hôm nay, dù đã sau hơn 20 năm, tôi xin cúi đầu tưởng
niệm, gọi tên anh, anh nói riêng và những người lính VNCH nói
chung đã nằm xuống. Cuộc chiến nầy dù đã kết thúc như thế
nào, người dân miền Nam Việt Nam vẫn cúi đầu ghi nhớ công
ơn các anh, sự hy sinh cao cả của các anh bởi trên từng tấc
đất mà họ đang sống đều được đắp bồi bằng máu của
những người như các anh đã không sống hết tuổi xuân của
mình.
| Vùng Kỷ Niệm | | Ban Tin 25 | | Trang Chính |
Ottawa,
ngày 15 tháng 3 năm 1996
Dương
thị Sớm Mai