Trên
dải cát thấm máu của bờ biển Đông ở
những ngày cuối tháng Ba 75 giữa tức tưởi
hỗn mang của sống và chết, khi mà những đại
bàng, anh cả bỏ lính lại trên bờ để
trốn lên tàu trước, trong cơn hồng thủy khi
mà mọi người bất kể
sống chết đổ xô xuống biển để hy
vọng ngoi ra cho được con tàu cuối cùng thì
vẫn ở trên bờ:
..."Chỉ có những người lính quân y TQLC là những người đặc biệt trong số những người quần áo khô. Họ không nhấp nha nhấp nhổm mà hoạt động thực sự. Họ tập họp thành những toán cấp cứu đặc biệt, lăng xăng hết tiêm thuốc cho người này, lại hô hấp nhân tạo cho người khác mới từ biển vào, hết băng bó cho người này lại đem băng ca khiêng người khác. Xin cám ơn và nghiêng mình kính phục những người lính quân y này". Cao Xuân Huy (Tháng Ba Gãy Súng.)
Sau 75, Tổng Y Viện ấy mất tên, chỉ còn
mang một con số , không khí lạnh lẽo như
một trại lính. Thương bệnh binh là những người
được đưa từ trong R ra hay mới từ
chiến trường K chuyển về. Đám thương
binh mới rất trẻ, đa số gốc lao động
hay nông dân gầy ốm xanh xao ngơ ngác đến
tội nghiệp. Đám tụi nó được kể là
thế hệ thứ năm xuất thân từ những gia
đình vẻ vang của giai cấp công nông được
hy sinh. Ở đây không dễ gì mà tìm được
những đứa con của "giai cấp đầy
tớ nhân dân", chiến trường thực sự
của bọn ấy nếu không là Liên xô thì thì ít ra cũng
là ở những thành phố hoa lệ của các nước
Đông Âu khác.
Tụng, người thượng sĩ y tá cũ
được kể trong số hiếm hoi những hạ
sĩ quan ngụy được lưu dung. Tụng
phải chứng kiến những chuyện đổi đời
từ ngày được gọi là Giải phóng. Mà cũng
chẳng có gì lấn cấn ngay từ những ngày đầu
mới tiếp thu ấy. Thương bệnh binh cũ
chẳng cần chờ đuổi, họ tự động
bỏ viện, kể cả những người không nhà.
Số bác sĩ và sĩ quan cũ được cho
nghỉ đồng loạt để chuẩn bị đi
trình diện cải tạo mười ngày hay một tháng.
Riêng đám hạ sĩ quan và binh lính thì được
mau chóng thanh lọc qua ý kiến tại chỗ của nhân
dân, nhân dân đây là những tên lính nằm vùng. Đó
cũng là dịp không phải để ơn đền
nhưng oán thì phải trả. Chỉ một số ít y tá
do có khả năng chuyên môn thì được tạm lưu
dung. Tụng được giữ lại phục vụ
tại khu liệt, dưới quyền một viên thượng
úy gốc Nghệ Tĩnh, nghe nói từng du học ở
Đông Đức, trình độ văn hóa lớp
bảy trở thành bác sĩ qua diện chuyên tu. Là bác sĩ
hồng nhiều hơn chuyên, nhưng với cái “mác” du
học nước ngoài cùng gốc gác đảng,
Tụng thấy hắn đầy quyền uy khiến đám
bác sĩ chính quy phải rất nể vì.
Khu
Tụng làm việc khá đặc biệt. Cùng một khoa
nhưng lại gần như biệt lập hai khu: khu thương
bệnh binh cách mạng, còn khu kia như một ốc
đảo ảm đạm rất cách biệt lạnh
lẽo mùi tử khí với mươi bệnh binh bại
liệt cũ. Đa số bọn họ không có gia đình,
liệt nặng và mức cao_ liệt cả tứ chi, hay
do biến chứng co rút không thể rời khỏi giường.
Trước đó, những đứa liệt nhẹ còn
chút khả năng di chuyển cũng đã bỏ
viện, nếu cần thì ra nằm ngoài lềø đường.
Tụng làm việc ở cả hai khu, được giao
khoán cho cai quản cả khu ngụy, muốn làm gì thì làm
chẳng được bác sĩ ngó ngàng tới. Không
phải chỉ riêng Tụngï, mà với mỗi phái đoàn
tới thăm đều bị viên Thượng úy nhân
danh đảng ủy nhồi sọ về tính nhân đạo
của đảng đã không ném chúng ra đường,
không bỏ đói lại cả cho hưởng cùng
chế độ dinh dưỡng với thương
bệnh binh cách mạng. Vậy mà đa số bọn nó
tử vong vẫn rất cao, nếu không không chết vì
lở loét nhiễm trùng đường tiểu thì cũng
suy kiệt sau một thời gian không chịu ăn
uống gì. Riêng y tá
Tụng thì hiểu rất rõ là tại sao.
Đã
bao lâu rồi, từng làm việc ở trại này,
vậy mà sao Tụng vẫn không thể nào cầm
được cảm xúc khi chăm sóc những người
bệnh liệt trẻ tuổi ấy. Có người đã
sống ở đó và được Tụng chăm sóc
từ nhiều năm rồi. Họ thuộc đủ binh
chủng, đã cầm súng chiến đấu và ngã
xuống từ những địa danh khác nhau. Bây giờ
tất cả nằm đây, chết khô dần như
những con cá mắc cạn. Có nhiều người
bị đạn vào cổ, liệt cả tứ chi sự
sống chỉ còn chớp mở nơi đôi mắt. Có
người chỉ còn da bọc xương và da là
từng mảng dày khô đóng vảy bạc trắng như
trên xác ướp. Trong nghịch cảnh này, họ còn dai
dẳng sống mỗi từng
ngày được thêm bao lâu nữa. Riêng thằng Lượng
là đứa được Tụng coi như
thằng em kết nghĩa không phải chỉ vì cùng quê mà
cả do những sự kiện rất đặc biệt
của đời nó. Nó gốc là lính mũ xanh, thích phiêu
lưu, sửa cạo khai sinh tăng tuổi để
sớm được vào lính, can đảm liều lĩnh
chẳng biết sợ là gì. Trải bao chiến trận,
kể cả những tình huống gian nguy nhất, có khi
cả một đại đội tan hàng thì nó vẫn
thoát về được và sống phây phây. Ai cũng
nghĩ là đạn tránh nó. Bạn đồng đội
đồn rầm lên là thằng Lượng có bùa. Không
phải chỉ bùa hộ mạng mà cả bùa yêu nữa.
Nếu không vậy thì làm sao hành quân khắp bốn vùng
chiến thuật, tới đâu cũng có vô số con gái
yêu nó. Kể cả các cô nữ sinh xinh đẹp và có
học nữa chứ. "Xanh cỏ hay đỏ ngực" là cái
triết lý liều lĩnh của Lượng khi vào lính.
Nó được đặc cách thăng cấp hạ sĩ
ngoài mặt trận và cả nhiều huy chương.
Vậy mà bùa của nó lại hết linh khiến
thằng Lượng suýt chết lãng xẹt ở mấy
ngày Tết hưu chiến. Lượng bị đứt
tủy sống ở mức ngực do một mảnh pháo
bắn vào phi trường. Cả đơn vị không ai
bị thương trừ nó. Vốn là đứa trẻ
năng động và cả bay bướm nữa, làm sao mà
nó chịu cho thấu cảnh chết cạn đó. Lượng
tự tử nhiều lần nhưng đều được
cứu sống. Rồi nó bắt đầu hiểu
rằng sống lây lất như vậy đã chẳng
dễ dàng gì nhưng chọn cái chết coi bộ còn khó
khăn hơn. Nên cho dù ban đầu nó tuyệt vọng
giận dữ, chối từ thảm họa đã đến
với nó, nhưng rồi nó vẫn phải chấp
nhận sống. Lại có thêm đức tin vào Thiên Chúa
nên tính tình hắn dần dần đằm trở
lại. Cho dù chỉ còn nửa phần trên và hai tay, nó
vẫn hăng say tập luyện phục hồi. Đây là
đang nói về những ngày trước giải phóng.
Ngoài giờ học thêm về văn hóa, Lượng còn
vẽ tranh và cả chơi bạo làm thơ nữa. Như
bản chất tự nhiên tâm hồn nó, tranh thì đầy
ngập ánh sáng và màu sắc tươi sượng
khỏe mạnh; thơ thì giản dị nhưng là hơi
thở ấm áp của cuộc sống có đức tin,
đủ làm xúc động sâu xa cả lòng người.
Bài thơ Riêng mỗi từng
ngày của nó
được các bệnh nhân khác luân phiên truyền tay
nhau chép lại:
Đường tôi đi,
khi phẳng lặng khi gập ghềnh
Hôm qua tội lỗi,
ngày mai thì bất chắc
Thôi, bổn phận
sao cho làm đủ mỗi ngày
Hôm nay mới thực sự là ngày
của chúng tôi
Của Chúa cho và của riêng tôi
Và hành trình tôi, chỉ là riêng mỗi
từng ngày*
Vì
cái gọi là chính sách, đám người có nợ máu như
Lượng với chứng tích hai chữ "sát
cộng" còn rành rành trên tay, với sự sống còn
thoi thóp mà vẫn chưa bị tống ra khỏi viện.
Những ngọn đèn cạn dầu ấy chưa
biết rụi tắt khi nào. Chẳng
bao giờ được bác sĩ ngó ngàng tới, chăm
sóc chỉ còn trông vào đám hạ sĩ quan y tá cũ lưu
dung với đồng lương chết đói nhưng
thủy chung nghĩa tình cho tới giờ phút cuối cùng.
Có lẽ suốt cuộc đời còn lại, chẳng
bao giờ Tụng có thể quên được những
đôi mắt trống vắng lạnh tanh của những
người thương binh cũ, còn xa hơn cả
sự tuyệt vọng buồn thảm, họ chưa
chết hết phần xác nhưng đã chết cả
phần hồn. Cuộc sống chỉ là đếm thêm
cho riêng mỗi từng ngày.
Không
phải mới bây giờ, bản chất Tụngù lúc nào
cũng ít nói nhưng có sức làm việc khoẻ như
trâu. Nó gốc gác nông dân, như người cày bám
ruộng chỉ biết cặm cụi vun xới thửa
đất của mình cho dù thời tiết tốt xấu
là thế nào. Tụng vốn hiền lành và ẩn
nhẫn nhưng phải tính cộc. Khổ bao nhiêu cũng
chịu được nhưng nó không chịu được
nhục. Chăm sóc lính bị thương chứ gì đâu
mà bảo là có tội, cả ít nhiều có nợ máu
nữa._ Tôi tự xét chẳng làm gì nên tội cả.
Trong tổ thảo luận, Tụng đã nói hụych
toẹt ra như vậy. Tuy buồn bực nhưng Tụng
vẫn tận tụy chăm nom
những người bệnh của cả hai bên
mỗi từng ngày và chưa biết bao giờ là ngày
cuối cùng. Nếu Tụng có quan tâm hơn tới mươi
người bệnh cũ chỉ tại tụi nó quá
khổ, hoàn toàn bị bỏ rơi và chẳng có ai thăm
nuôi. Phù thịnh, như nước chảy xuống
chỗ trũng là cái lẽ thường chứ ai dại
gì mà phù suy bao giờ. Nhưng như giòng nước
chảy ngược, Tụng lại là thứ người
phù suy ấy. Có lẽ vì vậy mà Ban lãnh đạo và
phòng tổ chức bệnh viện không mấy ưa
Tụng. Nhưng lại chẳng tìm ra lỗi gì để
khiển trách vì Tụng cùi cụi làm việc năng
xuất gấp đôi cả chiến sĩ thi đua, nhưng
cách mạng vẫn khó chịu về cái nhìn trắng
đen không rõ rệt nơi Tụng. Cho học tập
cải tạo tại chỗ bao nhiêu
Tụng cũng không phân biệt được tính
giai cấp với vị trí khác nhau của thương
bệnh binh hai phía. Với Tụng thì chỉ có người
bệnh mà hắn hết tâm phục vụ. Lãnh đạo
nhìn Tụng như một thứ đầu có sạn, dù
có nhồi nhét thêm bao nhiêu lý thuyết Mác Lê cũng
chẳng thay đổi được gì cái thứ luân lý
bà Sơ, nghĩa là nhân đạo một cách chung chung
ấy. Không phải chỉ có tận tụy chăm sóc
đám bệnh binh mà Tụng còn hết lòng chỉ
dẫn đám y tá mới, cái bọn đã nuôi sẵn ác
tâm chỉ rình hất Tụng ra khi nắm được
đôi chút chuyên môn.
Thế
rồi cái ngày cuối cùng không thể tránh cũng đã
tới. Hoàn toàn không được báo trước,
giữa buổi sáng đang bề bộn công việc,
tắm rửa cho mấy người bệnh liệt trong
đó có thằng Lượng. Tụng bất ngờ
được gọi lên Phòng Tổ chức, báo cho
nghỉ việc ngay từ hôm nay. Tụng không được
phép và cũng chẳng có cơ hội trở lại
trại bệnh nói lời từ biệt, nhất là
với thằng Lượng. Tụng được
cấp một giấy giới thiệu mẫu in sẵn duy
chỉ có tên tuổi được viết tay, với yêu
cầu chính quyền địa phương giúp đỡ.
Bấy
lâu xa quê hương nhớ mẹ hiền, Tụng vui
mừng được trở về quê với mẹ,
trở lại nghề ruộng. Tụng thì quá mộc
mạc nghĩ rằng mình chẳng cần thứ giấy
tờ như vậy và không hiểu thấu được
cái thâm ý báo cho chính quyền địa phương
cảnh giác về cái gốc gác của Tụng.
Tụng
quê Bến Tre, chỉ còn mỗi bà mẹ gìa sống trong
căn nhà ba gian của hương hỏa và mấy sào
ruộng bấy lâu gia đình vẫn tự làm lấy.
Gốc gác như vậy chẳng được là bần
cố nông nhưng bấy nhiêu chắc chưa thể
bị coi là tư bản địa chủ bóc lột.
Những năm chiến tranh về sau này, do tuổi già neo
muộn lại thêm nỗi buồn vì hai trong ba đứa
con trai chết trận liên tiếp: một đứa là lính
Biệt động quân, còn đứa kia vào lính Nhảy
dù mới ra trận cũng đã chết tốt, nên đất
đai bị bỏ lây lứt.
Nay
có Tụng về, còn mỗi thằng con trai là nó, là
dịp để cho hai mẹ con trở lại khai khẩn
đất làm cho kịp vụ. Không có đại hội
không nghị quyết cũng chẳng có kế hoạch
thập niên hay ngũ niên nào nhưng hai mẹ con đã
vẽ ra trước mắt một tương lai thật
rõ ràng: cố sao làm trúng vài vụ, nuôi thêm vài con heo,
bỏ ống dành dụm chút đỉnh rồi bà sẽ
đi cưới con Bé Tư cho Tụng.
-
Nó cứ hỏi thăm mày hoài, nhà đâu có còn ai,
chỉ có nó tới lui, má coi nó như con ruột của má
vậy đó, mà bộ mày còn trẻ lắm sao, lấy
vợ sớm có cháu cho bà nội nựng...
Tụng
cười hiền lành chấp nhận kế hoạch
của mẹ cho dù chưa biết mặt mũi con Bé Tư
hồi rày ra sao. Tụng thật thương nói đùa
với má:
-
Má đã ưng là con chịu, con nhà binh mà, thi hành
lệnh má trước có chi khiếu nại sau. Mà
chắc con không có chi để khiếu nại đâu mà
má sợ...
Bây
giờ không còn nỗi lo sợ tiếc nuối của
những kỳ về phép qua mau. Lần này bà thực
sự an tâm sung sướng trước hạnh phúc lâu dài
của hai mẹ con.
-
Hòa bình rồi được có con về là má vui ,
mặc cho họ nói chi thì nói, cái mửng bắt mẹ
dẹp khung hình thằng Ba thằng Tư
trên bàn thờ là không khi nào má chịu. Lính ngụy
hay không lính ngụy tụi nó vẫn là con má. Chòm xóm có
gia đình nào mà không có con vô lính rồi chết
trận, vẻ vang hay không vẻ vang có cái đau nào
bằng cái đau của bà mẹ mất con. Họp
tổ phường khóm má nói toáng ra như vậy,
chịu hay không chịu thì thôi... Con tổ trưởng
phụ nữ thấy mẹ làm dữ quá nên cũng nín
khe...
Tuy
không thật còn trai trẻ nhưng Tụng vẫn còn
rất mạnh. Mỗi sáng sớm ra đồng với con
trâu kéo, cày lật mấy thửa đất, tới
xẩm tối mới về tới nhà đau rêm cả mình
mẩy, nhưng bù lại được mẹ già chăm
sóc cho từng miếng ăn manh áo chứ không còn
cảnh thịt hộp gạo xấy
với suốt ngày đêm đôi giày trận hôi rình
như hồi nào. Chén cơm lúc nào cũng là cơm nóng
ăn với cá kho tộ – món mà Tụng vẫn thích má
nấu cho ăn từ hồi còn bé, xì xụp với tô
canh rau hái ngay từ vườn
sân sau nhà. Bà chăm sóc cho Tụng từng chút, ép con
từ miếng ăn như hồi còn bé, cứ vậy mà
bà quên là mình đã già. Hạnh phúc bình thường
đơn giản vậy mà bao năm sau mẹ con mới tìm
lại được.
-
Món cá kho tộ má nấu ngon khỏi chê...
Bà
cười làm bộ mắng nựng con:
-
Khổ hơn tụi mồ côi con bà Phước nữa má
à.
Bà
nghe mà sụt sùi thương cảm:
-
Không sao, để má sắp xếp với con Bé Tư
mấy bữa nữa lên thăm đem chút quà vô cho
tụi nó. Thì má cũng thương tụi nó như đám
con nuôi của má.
Chuyện
xa gần, chuyện chòm xóm, hai mẹ con thủ thỉ bên
ngọn đèn dầu đến tận khuya. Tụng
mệt ngủ ngon lành lúc nào không hay, nhưng vẫn
nhớ như in là được má kéo tấm mền
đắp cho lúc nửa khuya khi trời thật se lạnh.
Buổi
sáng hôm sau như thói quen Tụng dậy thật sớm,
ăn lùa mấy bát cơm kiểu thợ cầy rồi
dắt trâu ra ruộng. Đạp chân trên những
luống đất vừa cầy vỡ, Tụng miên man
nghĩ tới hạnh phúc những ngày được
gần bên mẹ, rồi nghĩ tới Bé Tư thấy thương
con nhỏ ngay; chẳng vì một lý lẽ nào khác là má
rất thương nó. Mặt trời lên cao hơn nửa
con sào, gió mát dịu nhẹ vậy mà Tụng bắt
đầu thấy nực với cả lưng rướm
ướt mồ hôi. Tính rằng đi nốt mươi
luống nữa thì nghỉ xả hơi rít điếu
thuốc lào say cho đảo điên trời đất.
Tụng nghiện thuốc lào từ hồi mới bắt
đầu vô lính lựng. Cuộc đời y tá của
Tụng không quên được chuyện lính tráng đập
đạn làm ống thuốc lào nổ bị thương
cả chùm, lại có đứa say thuốc té nhào vô
đống lửa cháy rụi cả lông mày phỏng
cả mặt mũi... Ruộng bỏ cả mấy mùa, mưa
rồi nắng, nắng rồi mưa làm đất
ruộng khô keo lại cứng như đất sét. Cả
trâu và người bở hơi tai vì thẻo đất bướng
bỉnh.
Tắc
tắc, Tụng vẫn luôn tay nghiêng tách lưỡi cày
để bớt sức trâu, cảm giác dịu mát
thấm vào lòng bàn chân mỗi bước đạp trên
tảng đất mới... Đang miên man giữa cái
hạnh phúc của đất
và người , bất chợt bàn chân Tụng đạp
lên một vật như thép lạnh cứng - chưa
kịp rút chân lại thì "ụp" tiếp theo là
tiếng kêu "má ơi !" Cảm giác đau như xé
khiến Tụng ngã qụy, nhìn xuống thì một bàn chân
đã bị đứt rời. Kinh nghiệm chiến
trận khiến Tụng nhận ra ngay không phải lựu
đạn mà là thứ mìn muỗi chống cá nhân,
chẳng biết ai đã ném vô và nằm im trong đám
ruộng nhà mình tự bao giờ.
Không
chỉ đau vì mất chân, Tụng biết mình vẫn còn
sống nhưng đau sót hơn chỉ sợ làm mẹ
buồn. Tụng xé ngay
mảnh áo làm vòng garrot
tự cấp cứu cầm
máu. Tụng nổi tiếng lì khi còn trong chiến
trận, trong đời Tụng chưa từng biết khóc
là gì nhưng bây giờ thì đôi mắt mờ lệ nhìn
về phía nắng hanh chiếu vàng trên những bụi tre
phía xa, thấp thoáng đâu đó là nóc nhà quen thuộc,
nơi đó có bà mẹ già và cả con Bé Tư đang lúp
chúp lặt mớ rau cho nồi canh chuẩn bị bữa
ăn chiều. Tụng không nghĩ tới mình, không màng
tới cái đau như xé truyền lên từ mỏm
chân cụt mà lại cứ miên
man với ý nghĩ
là sắp tới đây, phải ăn làm sao nói làm
sao với má bây giờ, để cho bả khỏi
khổ.
Hòa
bình rồi hạnh phúc tính là dài lâu nhưng rồi ra cũng
chỉ là tính riêng cho mỗi
từng ngày.
NGÔ THẾ VINH
Little Saigon, 04/94
| Home | | Trang Vùng Kỷ Niệm | | E-mail: deltabcd@yahoo.com |