
Trên
quốc-lộ Bắc 93 đến tỉnh Salmon, thuộc tiểu bang Idaho. phía Tây
quốc lộ 93 là giòng sông Salmon quanh mình uốn khúc theo các ghềnh
đá, xa hơn nữa là dẫy núi đá được trang-điểm với vài
cây thông mọc thưa-thớt và còi cọc. Bây giờ khoảng 4 giờ
chiều, mặt trời đã chấm trên đỉnh núi, ngày đã ngắn hơn
vào tháng mười, đột nhiên vài tia sáng lấp-lánh một phía
bên kia bờ sông làm tôi chú ý, tôi vội giảm tốc-độ xe
để quan-sát, những tia sáng lấp-lánh đó là ánh
sáng phản-chiếu lại từ những tấm kính cửa sổ khác
loại chen lẫn với những cây chống và vài thứ phế-thải
khác bên sườn núi. Tôi nói như reo: “A! Hình như đây là
giang-sơn của Caveman đây.” Khi thấy cây cầu sắt nhỏ bắc qua
sông là tôi không ngần-ngại rời xe khỏi đuờng 93 để dấn-thân
vào lãnh-dịa của Caveman. Đầu tiên là vài ngôi nhà lụp-xụp
được chắp-nối bằng đủ thứ
vật-liệu, từ vách đất, gỗ,
phụ-tùng xe hơi cũ...nằm dọc theo con đường sỏi nhỏ, những
thứ đó tạo nên một khung-cảnh có vẻ
bừa-bãi, hỗn-độn
và gây cho ta cái cảm-giác không được an-tâm khi đi sâu vào
hơn nữa. Vợ tôi đề-nghị hãy rời khỏi chỗ này ngay, tôi
vội trấn-an nàng vì tôi đã có đọc một bài viết về dị-nhân
nầy đăng trên tờ báo The Idaho Statesman cách đây vài năm.
Tôi lái xe chậm theo con đường sỏi nhỏ, qua khỏi khúc quanh
chúng tôi thấy một người đàn ông đang đạp xe đạp cùng
chiều và con chó nhỏ lon-ton chạy theo sau. Nghe tiếng động-cơ
xe tôi người đi xe đạp ngừng lại, con chó của hắn ta sủa
lớn và chạy xổ về phía xe tôi. Tôi ngừng hẳn xe vì chẳng
thấy con chó đâu nữa, tôi không muốn gây nên sự phiền-luỵ
đến mình vì những chuyện không đâu. Con chó nhỏ khuất dưới
tầm nhìn trước mũi xe, phía trước người đàn ông ngồi trên xe đạp
vẫy tay ra hiệu cho tôi cho tôi tiến về phía hắn, tôi cảm thấy
an-toàn khi cho xe lăn bánh. Bây giờ tôi mới có dịp nhìn kỹ
người đàn ông trước mặt, đó là một ông cụ trông rất
khoẻ mạnh và nhanh nhẹn, dưới chiếc nón nhưạ sơn đỏ của
sở cứu hoả che ánh mắt sâu, hàm râu quai nón trắng bạc với
nụ cười móm xọm tạo cho ông một sự hiền-từ, thân-thiện.
Quần áo ông mặc tuy lành lặn nhưng những vết cáu bẩn trên
cái áo khoác ka-ki làm quần áo ông đang mặc trở nên cũ
kỹ hơn. Tôi vội hỏi:
Are
you a Caveman?
Yes.
Ông già trả lời.
Tôi
hỏi ông ta: “Tôi muốn chụp một vài tấm ảnh về khung cảnh
quanh đây và ảnh của ông nữa có gì trở-ngại hay phật-ý
ông không?”
“ûNo
problem! một đồng chụp ảnh của tôi, một đồng đi tour, mướn
hang hai đồng một đêm, post card năm chục xu...”õ
Tôi suy nghĩ trời đã về chiều, tôi muốn đến tỉnh
Hamilton của tiểu-bang Montana trước khi trời tối nên tôi từ-chối
việc đi tour. Tôi muốn thăm chỗ ở của ông chụp một vài
tấm ảnh rồi tiếp-tục cuộc hành-trình. Ông già vẫn với
thái-độ vui vẻ cố-hữu và ngoắc tay: “ûĐi theo tôi.”õ
Ông
phóng mình lên chiếc xe đạp “ûmountain bike”õ đạp phom-phom,
con chó nhỏ cong đuôi cố sức bám theo sau. Tôi tìm chỗ đậu
xe, với tay lấy túi máy chụp ảnh chúng tôi ra khỏi xe và bước
lên con giốc nhỏ dẫn đến hang cốc của dị-nhân.
Bây giờ tôi mới quan-sát kỹ hơn khung-cảnh nơi ông
trú-ngụ, những tảng đá khá lớn được sắp xếp ngay ngắn
thành một bức tường cao, cao hơn nữa là vách núi với những
khung cửa kính cũ được lấy ra từ các “ûslide door”õ,
“car windows” được chắp-nối để lấy ánh sáng (skylight) và ngăn khí
lạnh. Bước vào hang ông ở gồm hai lớp cửa, phía ngoài là
nơi tiếp khách với diện-tích khoảng 6’x6’ rất sáng sủa
nhờ 2 cái khung cửa kính xe hơi.
Trên cái bàn nhỏ do ông đóng lấy có dể vài tấm ảnh
”postcard”, vài cuốn sách và tạp-chí cũ nói về cuộc sống
của ông, quanh tường được dán những tờ báo cũ đã vàng
ố một phần bị ăn mất bởi những con dê ông nuôi trước
đây. Tôi lựa vài tấm “postcard” rồi theo ông tiến vào bên
trong. Đây là phần được đào sâu vào trong lòng núi, trong
nầy thật ấm và khá rộng nhưng hơi thiếu ánh sáng. Những
cây cột và đà ngang chống dựng đất đá phía trên trông
rất vững-vàng, kiên-cố. Một cái bàn nhỏ dựng bên phải
có lẽ là bàn ăn trên đó là những chai lọ linh-tinh, sát
trong cùng là cái lò sắt dùng để nấu nướng và cũng
để sưởi ấm trong hầm, ống thoát khói dài 13 bộ được đào xuyên qua
lòng núi. Phía bên trái là chiếc giường ngủ khá rộng,
sát gần cửa chính một hầm sâu khác ngăn cách bởi khung cửa
gỗ nhỏ là nơi đựng thức ăn cho mùa đông. Rau trái thu-hoạch
vào mùa hè đã được ông cho vào chai nấu chín và khằn kín để giữ tươi
lâu. Ông cho biết những năm sau này ông đã ngưng không ăn
thịt dê ông nuôi như những năm về trước, thức ăn chính
giờ đây là rau cỏ ông trồng lấy. Tôi nhìn thấy cái đàn
guitar gác trên chiếc kệ thấp nên vội hỏi:
-Ông chơi đàn guitar?
Không
câu nệ, ông già lấy đàn xuống dạo lên một vài nốt và
cất tiếng hát, hết bản nhạc ông lấy cái giá kẹp kèn
“harmonica” vòng quanh cổ. Ông vừa thổi kèn và vừa đệm
đàn guitare, những ngón tay của ông chạy liếng-thoắng trên
cần đàn. Tiếng khẩu-cầm reo vui hoan-hỉ hoà với tiếng guitar
tạo nên những âm-thanh vui nhộn.
Hình ảnh của ông già và âm-thanh của các bản nhạc ông
trình-diễn đưa tâm-tư tôi trở về hình ảnh của các phim viễn-tây
Hoa-Kỳ tôi đã được xem khi còn bé. Dù bất cứ ở đâu
trên quả đất này âm-nhạc đều mang đến cho ta những niềm
hạnh-phúc nho-nhỏ, những giấc mơ, kỹ-niệm, những ký-ức
xa-xưa được khơi lại qua âm-thanh và đúng như ai đó đã từng
nói: “Có hai thứ con người không đo được chiều sâu, đó
là tình yêu và âm-nhạc.” Nhạc của ông già luôn luôn
được khởi đầu bằng cung Ré trưởng nên âm-thanh mang sắc-thái
của một người không ưu-tư, phiền-muộn. Ông vui với những
gì ông có và ông đã cho tôi một ý-niệm về cuộc sống
thật đơn-giản và bình-dị. Nơi đây không có điện, không có
vòi nước “faucet”ø không có những tiện-nghi tối-thiểu của
những ngôi nhà nơi phố-thị. Ông tự tay trồng rau, tự tay mình
xách nước từ sông Salmon để dùng. Những đồng tiền nhỏ
nhoi ông kiếm thêm được khi cho thuê những hang núi khác cho
những người đi cắm trại, câu cá hay săn bắn với giá hai
đồng một tối, ông già nói:”All you need is a sleeping bag.” Ông
có khoảng 16 cái hang như vậy.
Tôi chụp thêm vài tấm ảnh của ông với cây đàn
guitare, vợ tôi nói:
-Chồng tôi cũng chơi đàn guitare.
-Anh có mang đàn theo không?
-Có
-Mang đàn lên đây hoà nhạc với tôi.
Tôi
liếc nhìn vợ tôi vì sự nhanh-nhẩu đoảng của nàng, tôi xuống
dốc mang đàn lên. Ông chỉ sơ qua cho tôi những hợp-âm ông
sẽ chơi trong bản nhạc xong chúng tôi hoà đàn rất vui vẻ, tôi
chỉ đánh phầm đệm nên cũng dễ-dàng thôi vì phần chính ông
đã chơi nhuyễn quá rồi. Sau cùng thì tôi độc-tấu cho ông
nghe một bản nhạc tình buồn của Việt-Nam, bản “Như cánh vạc
bay” của Trịnh-công-Sơn do Phùng-tuấn-Vũ biên-soạn cho đàn
tây-ban-cầm, đây có lẽ là bản tôi đánh ít bị vấp vào
những lúc sau nầy? Âm-thanh từ những sợi giây gân vang lên
trầm buồn trong buổi chiều nắng sắp tắt ở Salmon. Sau khi nốt
nhạc cuối nhỏ dần và chìm vào khoảng không ông cất tiếng
hỏi:
-Anh chơi cung gì vậy?
-Mi thứ. Tôi trả lời
-I’ve never play this chord.
Thưa các bạn ông già ấy tên Richard Zimmerman, tục danh là
“Dugout Dick” hay ”Caveman”. Ông sống trong hang núi ở đây từ
năm 1948 (Năm tôi mới cất tiếng chào đời ở Đàlạt, Việt-Nam).
Trước kia ông có lập gia đình nhưng đến năm 1955 vợ ông
bị một người say rượu bắn chết và ông sống độc thân
cho đến nay. Tuổi đời đã trên 80, sống đơn-độc giữa chốn thâm-sơn
cùng-cốc của tiểu bang Idaho, thú tiêu-khiển của ông giờ đây có lẽ
là cái đàn guitare để đệm cho ông hát gửi đến nhân-gian
đôi lời tâm-sự. Trải qua bao năm tháng ông vui với
khung-cảnh thiên-nhiên, những vật-dụng ông có rất bình-dị
và khiêm-nhượng nhưng sức khoẻ và tinh-thần của ông rất
sung-mãn. Nơi đây ông được nhìn thấy núi đồi, sông suối,
thú-vật, ông có dư-thưà thời-giờ để suy-nghĩ, để thưởng-thức
những thay đổi của thiên-nhiên. Tôi yêu khung-cảnh thiên-nhiên,
yêu âm-thanh của những giọt mưa rơi vội vã trên mái lều,
tôi yêu những đêm yên-tĩnh ở núi rừng dưới bầu trời
đầy sao, tôi yêu hương thơm của mùi thông thoảng trong hơi
gió trên núi cao. Nơi đây tôi không còn phải nghe tiếng quạt
chạy rù-rù hầu như quanh năm suốt tháng, tiếng quạt từ tủ
lạnh, máy lạnh, máy sưởi, máy vi-tính....và tôi chỉ được
hưởng những giây phút ngắn-ngủi đó vào những ngày nghỉ
cuối tuần.
Mùa Thu Idaho, năm 1996